Hiển thị các bài đăng có nhãn sales. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sales. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

HÃY SỐNG THẬT GIẢN DỊ VÀ KHÔNG NGỪNG ĐẦU TƯ CHO CUỘC ĐỜI MÌNH

Warrent Buffet - cái tên luôn nằm trong top đầu danh sách những người giàu có nhất hành tinh - nói rằng: “Đừng dùng thẻ tín dụng, tất cả những gì bạn cần làm là tập trung đầu tư cho chính bản thân mình”.

Người giàu có thứ ba của thế giới đã làm giàu như thế nào và cuộc sống thường nhật của ông ra sao? Hãy xem lối sống giản dị và khiêm tốn của ông qua buổi phỏng vấn được đài CNBC thực hiện trong một giờ đồng hồ.

1. Ông bắt đầu mua cổ phiếu năm 11 tuổi và đến giờ ông vẫn cảm thấy hối tiếc vì đã không mua sớm hơn.

2. Ông đã mua một trang trại nhỏ vào năm 14 tuổi bằng số tiền dành dụm được từ việc giao báo.

3. Ông vẫn sống trong một căn nhà nhỏ với 3 phòng ngủ ở ngoại vi thành phố Omaha. Ông mua căn nhà này cách đây 50 năm, sau khi ông vừa kết hôn. Ông cảm thấy mình sống thật đầy đủ và tiện nghi trong căn nhà ấy, và nhà ông không hề có tường rào để bảo vệ.

4. Ông luôn tự lái xe và không hề thuê tài xế hay bất kỳ một người nào để bảo vệ ông.

5. Ông không bao giờ sử dụng phi cơ riêng mặc dù ông sở hữu một công ty sản xuất phi cơ lớn nhất thế giới.

6. Tập đoàn Berkshire Hathaway của ông đang điều hành đến 63 công ty con. Hàng năm, ông chỉ viết một lá thư để liên lạc với các giám đốc điều hành của 63 công ty này để hoạch định mục tiêu hoạt động trong năm. Ông không bao giờ triệu tập họp mặt hay gọi điện cho họ theo định kỳ như các tập đoàn khác. Ông chỉ đạo các tổng giám đốc điều hành làm việc theo hai quy tắc mà thôi. Quy tắc 1: Đừng bao giờ làm mất tiền của cổ đông. Và quy tắc 2: Luôn ghi nhớ quy tắc 1.

7. Ông không thích tham gia các cuộc hội hè, đình đám với tầng lớp thượng lưu của xã hội. Sau những giờ làm việc căng thẳng, ông lại trở về nhà, tự làm cho mình một túi bắp rang bơ và thong dong xem truyền hình.

8. Bill Gates, nhân vật giàu có nhất thế giới, đã gặp ông cách đây năm năm. Bill nghĩ giữa hai người chẳng có điểm tương đồng nào, vì thế Bill chỉ dự định gặp ông trong khoảng nửa giờ đồng hồ. Thế nhưng, trên thực tế, cuộc gặp mặt này kéo dài đến 10 giờ đồng hồ. Và từ đó, Bill Gates thật sự khâm phục Warren Buffet.

9. Warren Buffet không dùng điện thoại cầm tay, cũng chẳng có cái máy tính nào trên bàn làm việc của ông cả.

Ông đã nhắn nhủ với thế hệ trẻ như sau: “Đừng dùng thẻ tín dụng, tất cả những gì bạn cần làm là tập trung đầu tư cho chính bản thân mình và hãy nhớ rằng:

- Tiền bạc, của cải không tạo ra con người; chính con người mới tạo ra những thứ ấy.

- Hãy sống thật đơn giản và giản dị như chính con người của bạn.

- Đừng bao giờ làm theo lời người khác. Đó chỉ là ý kiến tham khảo cho bạn mà thôi. Hãy làm những gì bạn cho là đúng và đem lại cảm giác thoải mái cho bạn.

- Đừng phung phí tiền bạc cho những thứ không cần thiết, hãy sử dụng thật hiệu quả đồng tiền của bạn cho những người thật sự cần giúp đỡ.
Cuối cùng, cuộc sống là của riêng bạn, vậy thì tại sao lại để người khác định đoạt nó?”

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Những điều không thể bỏ qua trong cuốn sách cha giàu cha nghèo

Tại sao phải dạy con về tài chính?

Hầu hết mọi người không nhận ra rằng: trong cuộc sống, vấn đề không phải là bạn kiếm được bao nhiêu tiền mà là bạn giữ được bao nhiêu tiền và làm cho nó sinh sôi nảy nở như thế nào.

Điều đó cũng giống như trồng một cái cây vậy. Ban đầu, bạn sẽ phải mất rất nhiều công sức để chăm bón nó, đến một ngày nào đó, khi rễ cây đã đâm sâu vào lòng đất, cái cây đã đủ lớn để tự mình phát triển, bạn sẽ không cần phải tốn công chăm bón nữa mà vẫn có thể được hưởng những mùa quả ngọt lành.

Muốn cho cái cây tiền bạc của bạn phát triển, bạn phải có nhiều kiến thức về tài chính để biết chăm bón nó thật đúng cách.

Khi bắt đầu học cách làm giàu, tôi và Mike hãy còn là những đứa trẻ nên người cha giàu đã nghĩ ra một cách đơn giản để dạy chúng tôi. Trong nhiều năm, ông đã vẽ nhưng bức vẽ và sử dụng những từ ngữ đơn giản để Mike và tôi hiểu được những biệt ngữ và sự vận động của tiền bạc. Nhiều năm sau đó ông mới bắt đầu thêm vào những con số. Tuy đơn giản nhưng những bức vẽ này đã góp phần hướng dẫn hai đứa trẻ bé nhỏ trong một bài toán số học khổng lồ về tài chính, hình thành một nền tảng sâu sắc và kiên cố ...

Quy luật 1. Bạn phải biết sự khác nhau giữa tài sản (asset) và tiêu sản (liability), và để được giàu có, bạn phải mua tài sản.

Nghe thì có vẻ đơn giản đến buồn cười, nhưng hầu hết lại không biết được nó uyên thâm đến mức nào, vì họ không biết được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản là ở đâu.

"Người giầu kiếm được tài sản. Người nghèo và người trung lưu chỉ thu được tiêu sản, nhưng họ nghĩ rằng họ đã kiếm được tài sản. " Khi người cha giàu giải thích điều này cho Mike và tôi, chúng tôi nghĩ ông đang nói đùa. Chúng tôi đang chờ đợi một bí mật làm giàu, vậy mà ông lại trả lời như thế đấy. Nó đơn giản đến mức chúng tôi phải khựng lại một lúc lâu để suy nghĩ về điều đó.

"Bác muốn nói tất cả những điều chúng con cần biết là : tài sản là gì, sau đó phải đi kiếm nó và rồi chúng con sẽ giàu có sao?" Tôi ngờ vực hỏi.

Người cha giàu gật đầu. "Đơn giản thế thôi."

"Nếu chỉ đơn giản như thế, tại sao những người khác lại không giàu được?" Tôi hỏi lại.

Người cha giàu mỉm cười. "Vì người ta không biết được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản."

"Tại sao người lớn lại ngớ ngẩn thế nhỉ? Nếu đó chỉ là một điều đơn giản nhưng quan trọng thì tại sao người ta lại không muốn tìm hiểu?"

Người cha giàu phải mất vài phút mới giải thích được cho chúng tôi biết tài sản là gì và tiêu sản là gì.

Là một người lớn, tôi cảm thấy giải thích điều này với những người lớn khác thật khó khăn. Vì sao vậy? Vì người lớn khôn ngoan hơn. Gần như trong mọi trường hợp, hầu hết người lớn không nắm được sự đơn giản của một ý tưởng vì họ đựơc giáo dục khác nhau. Và một người lớn thông minh thường cảm thấy bị hạ thấp khi phải chú ý đến những khái niệm quá đơn giản.

Người cha giàu tin vào quy luật KISS - "Giữ Cho Đơn Giản" (Keep It Simple Stupid) - vì vậy ông cố làm cho mọi thứ trở nên thật đơn giản với hai chúng tôi . . .

Ông nói: "Những điều xác định nên một tài sản không phải là từ ngữ mà là những con số. Và nếu các con không biết đọc số thì các con không thể xác định được một tài sản trong mớ bòng bong ấy đâu."

Trong kế toán, vấn đề không phải ở bản thân những con số mà là những con số ấy nói lên điều gì. Cũng như từ ngữ vậy, vấn đề không phải ở bản thân từ ngữ mà là câu chuyện những từ ngữ ấy kể.

"Nếu con muốn trở lên giàu có, con phải đọc được và hiểu được những con số." Người cha giàu lặp đi lặp lại câu nói ấy cả ngàn lần với chúng tôi: "Người giàu kiếm được tài sản. Người nghèo và người trung lưu chỉ kiếm được tiêu sản."

Mô hình vòng quay của 1 tài sản

Hình hộp ở trên là Bản kê lợi tức, hay còn gọi là Bản kê lời lỗ. Nó đo các khoản thu nhập và chi phí, tiền vào và tiền ra. Cái hộp bên dưới là Bản cân đối thu chi. Nó được gọi như vậy vì nó đòi hỏi phải có sự cân đối giữa tài sản và tiêu sản. Lý do chính gây ra cuộc vật lộn tài chính đơn giản là vì người ta không biết được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn chính là vì định nghĩa của hai từ này. Càng cố tra từ điển, bạn sẽ chỉ càng nhầm lẫn nhiều hơn thôi.

Người cha giàu đã nói với hai chúng tôi một cách đơn giản rằng: "Tài sản bỏ tiền vào túi các con, còn tiêu sản thì lôi tiền ra khỏi túi."

Nếu bạn muốn trở lên giàu có, hãy mua tài sản. Nếu muốn trở lên nghèo đi, hãy mua tiêu sản. Chính vì không phân biệt được sự khác nhau này mà rất nhiều người gặp các rắc rối về tài chính.

“Mù chữ” và “mù số” đều là nguyên nhân gây ra những khó khăn tài chính. Nếu người ta gặp khó khăn tài chính nghĩa là đang có một điều gì đó mà họ không hiểu được: hoặc những từ ngữ hoặc những con số. Người giàu phát tài được là nhờ họ “biết đọc biết viết” trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn những người đang phải vật lộn về tài chính. Vì vậy, nếu bạn muốn giàu có và giữ được của cải, bạn cần phải hiểu biết về tài chính, cả về từ ngữ lẫn những con số.

Mũi tên trong sơ đồ biểu thị vòng quay của tiền mặt. Chỉ toàn những con số thì thể hiện được rất ít. Chỉ toàn từ ngữ cũng không nói lên được gì nhiều. Đó là câu chuyện về sự tính toán. Khi báo cáo tài chính, việc đọc những con số nghĩa là đang nhìn vào cốt truyện, câu chuyện kể về nơi đến của vòng quay tiền mặt. Trong 80% các gia đình, câu chuyện tài chính kém vui không phảI vì họ không làm ra tiền mà vì họ dùng tiền để mua tiêu sản chứ không mua tài sản.

Ví dụ: Đây là vòng quay tiền mặt của một người nghèo hay 1 người trẻ tuổi đi làm

Đây là mô hình vòng quay tiền mặt của người trung lưu

Còn đây là vòng quay tiền mặt của người giàu có

Những sơ đồ trên thể hiện vòng quay tiền mặt trong cuộc sống người nghèo, người trung lưu và người giàu. Chính là vòng quay tiền mặt đang kể chuyện, câu chuyện về một người sử dụng tiền bạc của anh ta như thế nào, anh ta làm gì sau khi cầm tiền trong tay ...

Người ta thường nói rằng:"Tôi đang mắc nợ, vì vậy tôi phải đi kiếm tiền."

Nhưng có nhiều tiền thường không giải quyết được vấn đề, thật sự nó chỉ làm cho mọi chuyện trở lên trầm trọng hơn thôi. Tiền làm cho những sai lầm bi thảm của con người trở nên hiển nhiên. Chính vì vậy mà thông thường, khi người ta được hưởng một vận may bất ngờ - ví dụ như được thừa hưởng gia tài, tăng lương hay trúng số - trước sau gì thì họ cũng sẽ trở về với tình trạng tài chính hỗn độn như ban đầu, nếu không muốn nói là tệ hơn lúc đầu nữa. Tiền chỉ làm nổi bật mô hình vòng quay tiền mặt trong đầu bạn. Nếu bạn thường sử dụng hết mọi thứ bạn có thì gần như chắc chắn là việc tăng lương sẽ dẫn đến tăng chi tiêu.

Chúng ta thường kiếm tiền bằng kỹ năng nghề nghiệp của mình và đa số sinh viên rời trường mà không có một kỹ năng tài chính nào, nên dù hàng triệu người có học theo đuổi nghề nghiệp của mình một cách thành công, họ vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn tài chính. Họ làm việc vất vả nhưng không giàu được. Điều thiếu sót trong vốn học của họ không phải là làm thế nào để kiếm tiền, mà là làm thế nào để sử dụng tiền - kiếm được tiền rồi thì cần phải làm gì với chúng. Cái đó gọi là năng lực tài chính - bạn làm gì với tiền bạc sau khi đã kiếm ra chúng, làm sao để giữ không cho người khác chiếm lấy, bạn giữ chúng được bao lâu, tiền bạc sẽ làm việc cho bạn như thế nào?

Hầu hết những khó khăn tài chính người ta gặp phải là do họ không hiểu được vòng quay tiền mặt. Một người có thể được học hành tới nơi tới chốn, thành công trong sự nghiệp nhưng vẫn không hiểu gì về tài chính. Những người này thường phải làm việc nhiều hơn cần thiết vì họ đã học cách làm việc chăm chỉ, nhưng không được học cách buộc tiền bạc phải làm việc cho mình.

Câu chuyện về 1 giấc mơ tài chính trở thành 1 cơn ác mộng tài chính

Cuốn phim về những người làm việc chăm chỉ có sẵn một khuôn mẫu. Sau khi kết hôn những cặp vợ chồng trẻ liền thuê một căn hộ để ở. Vấn đề là căn hộ quá tù túng, nên họ quyết định phải tiết kiệm để mua một ngôi nhà trong mộng và có thể có con. Lúc này họ có hai nguồn thu nhập và họ bắt đầu tập trung vào sự nghiệp của mình. Thu nhập của họ bắt đầu tăng lên.

Chi phí số một của hầu hết mọi người là thuế: thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng khi tiêu xài, mua sắm hàng hoá ... Khi thu nhập tăng, chi phí tăng theo, số tiêu sản cũng sẽ tăng lên.

Có thể chứng minh bằng cách quay lại ví dụ của cặp vợ chồng trẻ. Kết quả của việc thu nhập tăng lên là họ quyết định sẽ đi mua ngôi nhà trong mộng. Khi dã có nhà, họ sẽ phải trả một thứ thuế mới gọi là thuế bất động sản. Sau đó họ mua một chiếc xe mới, đồ đạc mới và những dụng cụ mới để hợp với ngôi nhà mới của mình. Rồi họ bỗng giật mình nhận ra rằng phía cột tiêu sản đầy những món nợ cầm cố và nợ tín dụng.

Lúc này, họ rơi vào cái bẫy Rat Race. Rồi một đứa trẻ ra đời. Họ làm việc nhiều hơn. Nhiều tiền hơn và thuế cao hơn, gọi là đóng thuế theo thu nhập. Quá trình đó cứ lặp đi lặp lại.

Một tấm thẻ tín dụng được gới đến. Họ sử dụng nó. Nó hết hạn. Một công ty cho vay gọi đến bảo rằng "tài sản " lớn nhất của họ, ngôi nhà, được định giá cao. Công ty này đưa ra một món nợ bảo đảm (bill consolidation loan), và bảo rằng tốt hơn hết là thanh toán những món nợ lãi suất cao bằng thẻ tín dụng của họ. Bên cạnh đó, lợi tức nhờ mái nhà của họ chính là sự khấu trừ thuế. Họ làm theo điều đó, và thở dài nhẹ nhõm. Những tấm thẻ tín dụng đã được trả. Bây giờ họ gom những món nợ tiêu thụ lại thành một văn tự cầm nhà. Số tiền phải trả giảm xuống vì họ gia hạn món nợ đến 30 năm cơ mà.

Những người hàng xóm gọi điện rủ họ đi mua sắm, vì đang có đợt bán hàng giảm giá ... Một cơ hội để tiết kiệm chút ít tiền. Họ tự nhủ: "Tôi sẽ không mua gì cả. Tôi chỉ đi xem thôi." Nhưng ngay khi nhìm thấy một vật gì đó, họ lại lấy tấm thẻ tín dụng ra ...

Khi thu nhập tăng lên

Chi phí tăng ...... Số tiêu sản cũng tăng

Tôi thường gặp những cặp vợ chồng như thế. Tên họ thì khác nhau nhưng tình trạng tài chính thì giống nhau cả. Những thói quen tiêu xài đã buộc họ phải kiếm thêm nguồn thu nhập khác.

Họ không biết rằng chính cách tiêu xài tiền của họ, là nguyên nhân chính gây ra những cuộc vật lộn tài chính. Mọi chuyện là do không hiểu biết về tài chính và không phân biệt được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản.

Người nghèo và người trung lưu rất thường cho phép tiền bạc làm chủ mình. Mỗi buổi sáng họ chỉ đơn giản thức dậy và đi làm mà quên tự hỏi rằng những điều mình đang làm có ý nghĩa hay không. Không am hiểu nhiều về tiền bạc, phần lớn mọi người để cho quyền lực đáng sợ của tiền bạc điều khiển mình.

Người ta thường làm một việc gì đó vì những người khác cũng làm như vậy. Họ thích ứng mà không chịu đặt câu hỏi. Họ lặp lại một cách không suy nghĩ những điều họ nghe được, những ý tưởng theo kiểu "căn nhà là cả một tài sản", "ngôi nhà là sự đầu tư lớn nhất của bạn", "hãy tìm một công việc an toàn", "đừng mạo hiểm"...

Khi mike và tôi 16 tuổi, chúng tôi bắt đầu làm việc cho cha Mike sau giờ học và mỗi cuối tuần. Chúng tôi thường ngồi cùng cha Mike trong khi ông tiếp những nhân viên ngân hàng, luật sư, kế toán viên, người môi giới, nhà đầu tư, nhà quản lý và những người lao động ...

Cha Mike đã không đi theo đám đông. Ông có những suy nghĩ riêng và ông rất ghét câu nói: "Chúng tôi phải làm vậy vì mọi người đều làm vậy." Ông cũng không ưa những từ như "không thể". Nếu bạn muốn ông làm một điều gì đó, chỉ cần nói khích rằng:"Tôi không nghĩ là anh có thể làm được điều đó."

Khi ngồi dự những buổi họp của ông, Mike và tôi học được nhiều thứ... Cha của Mike không được học nhiều ở trường nhưng ông rành về tài chính và cuối cùng đã thành công. Ông thường nói với chúng tôi"Một người thông minh thuê những người còn thông minh hơn anh ta nữa".

Chúng tôi bắt đầu hiểu ra vì sao ngưòi cha giàu bảo chúng tôi rằng: trường học được thiết kế để tạo ra những người lao động tốt chứ không phải những ông chủ giỏi.

Khi tôi 16 tuổi có lẽ tôi đã có một nền tảng tài chính tốt hơn nhiều so với cha mẹ tôi ... Một ngày kia, cha ruột tôi nói rằng ngôi nhà của chúng tôi là sự đầu tư lớn nhất của ông. Và thế là một cuộc tranh luận không lấy gì làm vui vẻ nổ ra khi tôi nói rằng, dồn tiền vào ngôi nhà chúng tôi đang ở không phải là một sự đầu tư tốt.

Những biểu đồ sau minh hoạ sự khác biệt về nhận thức giữa người cha giàu và người cha nghèo trong vấn đề nhà cửa Một người nghĩ rằng ngôi nhà là một tài sản, còn người kia nghĩ rằng nó là một tiêu sản.

Người cha giàu

Người cha nghèo

Tôi nhớ lúc tôi vẽ sơ đồ này cho cha tôi xem và chỉ cho ông hướng đi của vòng quay tiền mặt, những chi phí lệ thuộc khi làm chủ một ngôi nhà. Một ngôi nhà lớn nghia là chi phí lớn, và vòng quay tiền mặt sẽ tiếp tục đi ra ngoài qua cột chi phí.

Tiêu sản

Tôi biết rằng với nhiều người, một ngôi nhà đẹp là sự đầu tư lớn nhất của họ, dù rằng nó không phải là một tài sản mà là một tiêu sản, vì nó làm cho tiền ra khỏi túi nhiều hơn. Tuy nhiên, sẽ có nhiều người không đồng ý với tôi bởi lẽ một ngôi nhà đẹp rất dễ gây xúc cảm. Và khi nói đến chuyện tiền bạc thì những cảm xúc mạnh mẽ sẽ làm mờ đi trí thông minh tài chính.

1. Khi nhắc chuyện nhà cửa, tôi muốn nói rằng: hầu hết mọi người phải làm việc suốt đời để trả tiền cho một ngôi nhà mà họ không bao giờ thực sự được sở hữu. Nói cách khác, sau nhiều năm, hầu hết mọi người đều muốn mua một ngôi nhà mới, mỗi lần mua nhà sẽ dẫn đến một món nợ kéo dài nhiều năm trong khi nợ căn nhà trước còn chưa trả xong.

2. Nhà cửa không phải lúc nào cúng tăng giá. Điều mất mát lớn nhất là bạn để mất đi những cơ hội. Nếu bạn đầu tư toàn bộ tiền bạc cho ngôi nhà, bạn bị buộc phải làm việc vất vả hơn vì tiền bạc sẽ tiếp tục chuyển qua bên cột chi phí thay vì thêm vào cột tài sản, đó chính là khuôn mẫu kinh điển vòng quay tiền mặt của những gia đình trung lưu. Nếu ban đầu một cặp vợ chồng trẻ để dành nhiều tiền vào cột tài sản thì những năm sau này họ sẽ sống dễ dàng hơn, nhất là khi con cái đến tuổi đi học. Tài sản của họ sẽ phát triển lên và có thể giúp họ kiểm soát các chi phí. Thông thường thì có một ngôi nhà cũng giống như gánh một món nợ trị giá nhà phải trả và làm tăng các chi phí của bạn.

Tóm lại, kết quả cuối cùng khi quyết định sở hữu một căn nhà quá đắt tiền thay vì nên bắt đầu một danh mục vốn đầu tư, sẽ tác động mạnh vào một cá nhân theo ít nhất là ba cách:

1. Mất thời gian, trong lúc những tài sản khác có thể sẽ được nâng giá trị lên.

2. Mất một phần vốn, vì số tiền đó có thể được đem đi đầu tư thay vì phải trả các chi phí bảo quản trực tiếp liên quan đến ngôi nhà.

3. Mất cơ hội rèn luyện. Người ta thường coi ngôi nhà, tiền tiết kiệm và kế hoạch lương hưu là tất cả những gì họ có trong cột tài sản. Vì không đầu tư nên họ để mất đi những kinh nghiệm đầu tư và sẽ không bao giờ có thể trở thành "những nhà đầu tư sành điệu".

Tôi không nói bạn đừng mua nhà. Tôi muốn nói, hãy hiểu được sự khác nhau giữa một tài sản và một tiêu sản. Khi muốn có một căn nhà lớn hơn đầu tiên tôi phải mua một số tài sản để có thể phát sinh vòng quay tiền mặt đủ trả cho ngôi nhà ấy đã.
Những bản kê tài chính cá nhân của cha ruột tôi là minh chứng tốt nhất cho cuộc sống của một con người trong vòng Rat Race. Các chi phí của ông dường như luôn đuổi kịp các thu nhập, không hề cho phép ông đầu tư vào một tài sản nào. Kết quả là số tiêu sản của ông, ví dụ như những món cầm cố hay nợ thẻ tín dụng, còn lớn hơn cả số tài sản. Những bức tranh sau còn có giá trị hơn cả ngàn từ ngữ:

Bản kê khai tài chính của cha nghèo

Trái lại, bản kê tài chính cá nhân của người cha giàu lại phản ánh kết quả của một cuộc sống dành cho việc đầu tư và giảm đến mức tối thiểu các tiêu sản.

Bản kê khai tài chính của cha giàu

Xem lại bản kê tài chính của người cha giàu ta sẽ hiểu tại sao người giàu càng ngày càng giàu hơn. Cột tài sản làm phát sinh nhiều thu nhập hơn số cần thiết cho các chi phí, và chúng lại được đem đầu tư lại vào cột tài sản. Cột tài sản sẽ ngày càng phát triển và vì vậy mà số thu nhập sẽ ngày càng nhiều hơn.

Kết quả là người giàu ngày càng giàu hơn.
Lý do khiến người giàu ngày càng giàu hơn

Những người trung lưu luôn gặp phải những khó khăn tài chính không dứt vì thu nhập chính của họ là tiền lương, và khi tiền lương tăng thì thuế cũng tăng. Mà khi lương tăng thì các chi phí của họ cũng có khuynh hướng gia tăng bằng số tiền dư, vì vậy mà xuất hiện cụm từ "Rat Race". Họ xem ngôi nhà như một tài sản lớn nhất trong khi nó thực ra là một loại tiêu sản, thay vì phải đầu tư tiền bạc cho những tài sản thật sự có thể tạo ra thu nhập.
Khuôn mẫu của việc xem ngôi nhà như một sự đầu tư và triết lý cho rằng: lương tăng có nghĩa là bạn có thể mua một ngôi nhà lớn hơn, hay tiêu xài nhiều hơn, chính là nền tảng cho một xã hội đầy nợ nần như ngày nay. Quá trình gia tăng chi phí đẩy nhiều gia đình đến những món nợ ngày càng lớn hơn và tình trạng tài chính không chắc chắn hơn, dù rằng có thể họ đang được thăng tiến trong công việc và được trả lương cao hơn mức bình thường.
Lý do khiến người trung lưu luôn gặp phải khó khăn về tài chính

Bi kịch ở đây là việc thiếu kiến thức tài chính ban đầu đã tạo ra những rủi ro mà giai cấp trung lưu phải đối mặt. Lý do họ muốn được an toàn là vì vị thế tài chính của họ quá mong manh. Bản cân đối thu chi của họ không cân bằng. Chúng chịu gắng nặng quá nhiều tiêu sản mà không có một tài sản thực sự nào làm phát sinh thu nhập cả. Thông thường, nguồn thu nhập duy nhất của họ là tièn lương. Sinh kế của họ phụ thuộc vào các ông chủ.

Vì vậy, khi đến lượt mình được cuộc sống "chia bài", những người này không thể nắm bắt được những cơ hội tốt. Họ muốn được an toàn đơn giản vì họ đang phải làm việc vất vả, trả thuế ở mức cao nhất và gánh hàng đống nợ nần...

Như tôi đã nói ở phần trước, quy luật quan trọng nhất là biết được sự khác nhau giữa tài sản và tiêu sản. Một khi bạn đã hiểu được những khác biệt này, hãy tập trung mọi nỗ lực để mua những tài sản có khả năng phát sinh thu nhập. Đó là cách tốt nhất để bắt đầu con đường làm giàu. Cứ tiếp tục như vậy, cột tài sản của bạn sẽ tăng lên. Cố gắng chiết giảm tiêu sản và chi phí xuống, bạn sẽ có nhiều tiền hơn để đổ vào cột tài sản. Chẳng mấy chốc thì nền tảng tài sản của bạn sẽ vững vàng đến mức bạn có thể nghĩ đến việc đầu tư...

Giới trung lưu gọi việc đầu tư là một hành động "mạo hiểm". Thật ra bản thân việc đầu tư không hề mạo hiểm. Chính sự thiếu thông minh nhanh nhạy về tài chính và thiếu những kiến thức tài chính đơn giản mới là nguyên nhân gây ra sự mạo hiểm.

Nếu bạn làm theo những điều mà đa số mọi người thường làm, nói chung công việc của bạn sẽ như thế này:

1.Nuôi chủ. Hầu hết những người làm việc hưởng lương đều làm cho các ông chủ hay những cổ đông giàu hơn. Những nỗ lực và thành công của bạn sẽ giúp cho người chủ thành công hơn và có nhiều tiền hơn.

2. Nuôi chính quyền. Chính quyền nhận phần mình trong số lương của bạn thậm chí trước khi bạn nhìn thấy nó nữa. Khi cố gắng làm việc chăm chỉ hơn, chỉ đơn giản là bạn đang làm gia tăng số thuế phải nộp cho chính quyền.

3. Nuôi ngân hàng. Sau khi trả thuế, chi phí lớn nhất kế tiếp thường là những món nợ tín dụng.

Vấn đề là khi bạn cố gắng làm việc chăm chỉ hơn thì ba giới trên sẽ lấy đi một phần chia lớn hơn trong những nỗ lực của bạn. Vì vậy, bạn phải học cách làm thế nào để cho các nỗ lực của bạn có thể làm tăng lợi nhuận trực tiếp cho bản thân và gia đình mình.

Một khi bạn đã quyết định tập trung hết tâm trí để chăm nom việc kinh doanh riêng, bạn sẽ xác định một mục tiêu như thế nào? Với hầu hết mọi người, họ phải giữ lấy nghề nghiệp của mình và dựa vào tiền lương để kiếm tài sản.

Khi tài sản lớn lên, họ sẽ đo mức độ thành công như thế nào? Khi nào người ta mới nhận ra rằng mình đã giàu có, đã có tiền? Ngay khi biết được những định nghĩa về tài sản và tiêu sản, tôi cũng đã định nghĩa riêng cho mình về sự có tiền. Đúng ra tôi đã mượn định nghĩa này của một người bạn tên là Buckminster Fuller. Anh ấy nói: "Sự có tiền chính là khả năng tồn tại của một người trong một số ngày sắp tới..." hay nói cách khác, nếu hôm nay bạn ngưng làm việc thì bạn sẽ tồn tại được bao lâu?

Sự có tiền chính là sự đo vòng quay tiền mặt bên cột tài sản so với cột chi phí.

Hãy lấy một ví dụ nhỏ. Giả sử vòng quay tiền mặt bên cột tài sản của tôi là 1.000$ một tháng. Còn số chi phí hàng tháng của tôi là 2.000$. Vậy khả năng tiền mặt của tôi như thế nào?

Quay về với định nghĩa của Buckminster Fuller. Nếu xét một tháng 30 ngày thì tôi sẽ chỉ có đủ số tiền tiêu dùng trong nửa tháng.

Khi đạt đến mức vòng quay tiền mặt bên cột tài sản là 2.000$ một tháng, tôi sẽ trở nên có tiền.

Như vậy nghĩa là tôi chưa giàu có, nhưng tôi có tiền. Lúc này mỗi tháng tôi sẽ có những thu nhập mới phát sinh từ những tài sản có thể giải quyết vấn đề chi phí hàng tháng cho mình. Nếu muốn tăng chi phí, đầu tiên tôi phải tăng vòng quay tiền mặt từ số tài sản để có thể duy trì sự có tiền này. Chú ý rằng vào thời điểm này, tôi không còn bị phụ thuộc vào tiền lương nữa. Tôi phải tập trung vào và phải thành công trong việc xây dựng cột tài sản đã giúp tôi trở nên sung túc về tài chính. Nếu hôm nay tôi nghỉ việc, tôi vẫn có thể trang trải các chi phí hàng tháng nhờ vòng quay tiền mặt tài sản của mình.
Mục đích kế tiếp là phải có dư một số tiền trong vòng quay tiền mặt để đầu tư trở lại vào cột tài sản. Càng nhiều cột đầu tư vào cột tài sản thì nó sẽ càng phát triển. Và chỉ cần giữ được số chi phí thấp hơn số tiền mặt phát sinh từ những tài sản này thì tôi sẽ càng trở nên giàu hơn, với ngày càng nhiều thu nhập từ những nguồn khác ngoài sức lao động của mình.
Hãy nhớ:
Người giàu mua tài sản
Người trung lưu mua những tiêu sản mà họ nghĩ là tài sản
Người nghèo chỉ có toàn chi phí
Sưu tầm sau khi đọc xong cuốn sách hay.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2008

Thuyết ABC trong Tam @ Quốc


Ngày cuối cùng của năm 2008, ngồi đọc Tam Quốc thời nay của Thành Quân Ức mà ngẫm ra lòng mình, đúng là cuộc sống có nhiều điều mà ta chưa khám phá hết. Ngay từ bản thân, đôi lúc mình còn chưa hiểu nổi chính bản thân mình, chuyện của ông Lưu Bị mãi bên Tung Của vậy mà đọc đến đâu thấy nó thấm thía đến đấy. Văn chương Trung Quốc quả thực đáng khâm phục, họ viết ra những câu chuyện rất đời thường, nhưng dường như họ thấu hiểu lòng người, thấu hiểu độc giả. Đến một ông Trương Phi nổi tiếng hữu dũng vô mưu mà còn dạy được người ta phải biết sống "Không hoài nghi!, lòng phấn khích!" Đến câu chuyện của một cậu bé khi muốn nâng một tảng đá mà sức cậu không thể nâng nổi, nhưng điều gì đã đến ? Đó đúng là một bài học về cách vượt qua những khó khăn trong những lúc mà tưởng đã tuyệt vọng.
"Từ nay về sau, bất kể gặp khó khăn gì, bất kể thất vọng thế nào, mình đều phải nhớ tới hòn đá kia, sau đó tự hỏi: mi đã cố gắng hết sức chưa? "
Tam@Quốc cũng dạy cho ta một thuyết bán hàng hết sức đơn giản : Thuyết ABC - của tiên sinh Đổng Trác. Thật đơn giản mà sâu sắc.
A – Assertive: Quyết đoán nhưng không cố chấp, chỉ người có tố chất tốt nên tự tin.
B – Beautiful : đẹp nhưng không lòe loẹt, chỉ người tạo ấn tượng tốt cho khách hàng ngay từ cái nhìn đầu tiên.
C – Creative : sáng tạo, chỉ người biết kích thích, biết phát triển công việc lên một tầm cao mới.
Đơn giản vậy đấy, sâu sắc vậy đấy nhưng đâu dễ gì để ta học được, cần có sự nỗ lực, thật sự nỗ lực mới mong một kết quả thành công mỹ mãn.

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2008

Nhân tố T.R.U.S.T trong việc xây dựng và duy trì lòng trung thành của khách hàng


Cho dù trên cương vị một chủ doanh nghiệp hay một nhân viên bán hàng, chắc hẳn bạn đều mong muốn doanh số bán hàng của công ty có những bước tiến nhảy vọt. Nhưng để làm được điều này đòi hỏi ở bạn kỹ năng gây dựng niềm tin cũng như nắm vững nghệ thuật bán hàng.

Nếu coi việc xây dựng các mối quan hệ là chìa khóa đem lại thành công trong bán hàng, thì sự tin cậy chính là cơ sở của sự thành công đó. Khi bạn hỏi bất cứ một người bán hàng lâu năm nào rằng nhân tố gì đã góp phần vào sự thành công của họ, chắc chắn bạn sẽ được nghe câu trả lời là việc xây dựng sự tin cậy là yếu tố sống còn trong việc thiết lập các mối quan hệ với khách hàng. Nhưng bạn xây dựng niềm tin bằng cách nào? Theo tác giả Barry Farber đăng trên tạp chí Entrepreneur magazine, bạn có thể sử dụng chính từ “TRUST - sự tin cậy” như là một công cụ để xây dựng niềm tin đối với khách hàng. Công cụ này gồm năm nhân tố, mỗi nhân tố là một từ có chữ cái đầu tiên được bắt đầu bằng chính những chữ cái cấu thành từ “TRUST”.

Mỗi nhân tố này được coi như là một chiến lược giúp bạn xây dựng mối quan hệ vững chắc và đạt được những thành công về lâu dài, không chỉ đối với khách hàng của bạn, mà với tất cả mọi người ở xung quanh. Hãy tìm ra những thiếu sót trong hoạt động bán hàng của bạn từ năm nhân tố này để sửa đổi, cùng với thời gian, chắc chắn bạn sẽ trở thành một nhân viên bán hàng siêu đẳng.

1. Truth - Sự thật. Rất nhiều thứ có thể khiến bạn thất bại trong kinh doanh như: không chuyển hàng đúng hẹn; không biết thuyết minh về sản phẩm một cách có hiệu quả với khách hàng... Nếu xét trên quan điểm của khách hàng, khi bạn chẳng có động thái nào nhằm xây dựng các mối quan hệ với họ, thì tức là bạn đang đi trên con đường nhanh nhất dẫn đến việc đánh mất niềm tin đối với khách hàng và mãi mãi thất bại trong kinh doanh. Và việc xây dựng niềm tin đối với khách hàng phải được đặt trên nền tảng của sự trung thực. Không phải ngẫu nhiên mà một trong số những đức tính của người bán hàng được khách hàng đánh giá cao nhất trong một số nghiên cứu cần đây, thì tính trung thực và đạo đức kinh doanh được xếp ở vị trí cao nhất.

2. Reliability - Sự tin cậy: đây là nơi nhân tố T.R.U.S.T bắt đầu được xây dựng. Mỗi khi bạn trả lời khách hàng những thông tin mà họ yêu cầu, có nghĩa là bạn đang xây dựng niềm tin với họ. Khi bạn quan tâm đến dịch vụ hậu mãi, thì cũng có nghĩa bạn đang xây dựng niềm tin. Và mỗi khi bạn phản ứng ngay lập tức trước những vấn đề phát sinh từ phía khách hàng và tìm ra hướng giải quyết đúng đắn (hoặc ít nhất cũng đảm bảo chắc chắn với khách hàng là bạn đang lưu tâm đến vấn đề đó), thì đó cũng là một cách xây dựng niềm tin đối với họ.

Không nhất thiết phải có một phép màu để biến những ước mơ và kỳ vọng của khách hàng ngay lập tức trở thành sự thật, chỉ cần họ cảm thấy sự có mặt của bạn bất cứ lúc nào mà họ cần: trước, trong và sau khi bán hàng, cũng đủ để xây dựng niềm tin của họ đối với bạn.

3. Understanding - Sự hiểu biết. Khi đầu tư thời gian và công sức để hiểu nhu cầu của khách hàng, tức là bạn đang xây dựng nhân tố T.R.U.S.T với cố gắng nhìn ra thế giới bên ngoài bằng những đôi mắt khác nhau. Đặt ra các câu hỏi nhằm gợi mở các mối quan tâm của khách hàng là một trong những cách làm điều này tốt nhất. Bạn có thể thu được những kết quả mà bạn muốn thông qua việc phỏng vấn những người tham dự một hội nghị khách hàng nào đó. Bạn cũng có thể hỏi những nhân viên có doanh số bán hàng cao nhất xem khách hàng nói gì về lý do tại sao họ lại mua sản phẩm/dịch vụ của bạn. Hoặc bạn chỉ cần ngồi như là một thính giả để lắng nghe những bài phát biểu tại hội nghị khách hàng nào đó.

Tất cả những nghiên cứu này sẽ giúp bạn nhập thân vào khách hàng, đi trên đôi giầy và nói bằng ngôn ngữ của họ. Sự hiểu biết sâu sắc không chỉ giúp bạn xây dựng niềm tin, mà còn tạo ra sự tin tưởng và là công cụ cung cấp những giải pháp hoàn toàn đúng đắn trong hoạt động bán hàng.

4. Service - Dịch vụ. Không có cách nào xây dựng và duy trì niềm tin của khách hàng tốt hơn là thực hiện các dịch vụ hậu mãi đặc biệt. Để các hoạt động cần thiết cho việc bán hàng thành công, bạn hãy tự đặt cho mình các câu hỏi sau đây:

- Nếu một trong số những khách hàng quen từ bỏ mua sản phẩm/dịch vụ của bạn, bạn có biết lý do tại sao không?

- Nếu như bạn không biết lý do tại sao, bạn có hỏi khách hàng về điều đó không?

- Nếu như hỏi khách hàng, bạn có đặt câu hỏi thế này không: “Ông/Bà có thể cho chúng tôi biết điều gì chúng tôi đã không làm được mà đáng lý chúng tôi đã phải làm để phục vụ ông/bà được tốt hơn?”

- Bạn có đứng trên lợi ích của khách hàng để nhìn nhận các hoạt động bán hàng của mình không?

- Bạn có tạo ra các giá trị gia tăng cho khách hàng bằng cách thực hiện các dịch vụ “hậu mãi” và quan tâm đến những gì mà khách hàng mong muốn không?

- Bạn có tìm kiếm các phương pháp để giúp khách hàng nhận thấy họ có tầm quan trọng đặc biệt không?

5. Take your time – Hãy tận dụng thời gian. Niềm tin đối với khách hàng không thể xây dựng trong một đêm và sáng tỉnh dậy là đã có. Rất nhiều thứ mà bạn coi là nhỏ nhặt lại chính là những bước đầu tiên để tạo ra niềm tin đối với khách hàng. Hãy gọi điện thoại, gặp gỡ khách hàng và tìm cách giải quyết các vấn đề nảy sinh, chuyển hàng đúng thời hạn... Đó chính là các công việc mà bạn nên tận dụng mọi nơi, mọi lúc để làm.
(Theo Entrepreneur)

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2008

Website - người bán hàng tốt nhất



Mọi người đều đồng ý rằng trang web là một trong những công cụ bán hàng xuất sắc nhất mà một doanh nghiệp có thể có. Song ít có ai khẳng định trang web như một nhân viên bán hàng xuất sắc. Nắm bắt điều này và các doanh nghiệp sẽ thấy được nhiều kết quả khác biệt với công việc kinh doanh của mình.
Nếu nhìn nhận trang web của mình như một nhân viên bán hàng, doanh nghiệp sẽ bắt đầu nghĩ về nó với nhiều yếu tố khác biệt hơn là một công cụ đánh bóng sản phẩm, dịch vụ đơn thuần.
Doanh nghiệp bạn thậm chí muốn trang web được thiết kế tốt hơn, không khác gì mong muốn có được những nhân viên bán hàng hình thức bề ngoài lôi cuốn cho doanh nghiệp.
Việc chuyển trang web của doanh nghiệp thành một nhân viên bán hàng sẽ cần sử dụng những đặc điểm trực tuyến. Để giúp thực hiện nhiệm vụ này, hãng tư vấn quãng cảo Local Na8ion đặt ra bốn câu hỏi:
1. Trang web của doanh nghiệp có biết mọi thứ về hoạt động kinh doanh của mình như một nhân viên thực thụ?
2. Doanh nghiệp có đánh giá thành công của trang web (hàng ngày, hàng tuần, hàng quý, hàng tháng hay thường niên)?
3. Doanh nghiệp có "đào tạo" trang web của mình về những vấn đề kinh doanh cơ bản, những xu hướng mới hay những thay đổi kinh tế trong thị trường hoặc môi trường kinh doanh quốc gia cho ngành công nghiệp của doanh nghiệp?
4. Trang web của doanh nghiệp có tất cả các sản phẩm, dịch vụ hiện hành cũng như các yếu tố giá cả?
Doanh nghiệp bạn sẽ không bao giờ gửi một nhân viên bán hàng tới tiếp xúc một khách hàng triển vọng nên không chắc chắn rằng nhân viên đó có tất cả các thông tin cần thiết. Vì vậy, một trang web khi được mong đợi là một nhân viên khách hàng cũng cần có đầy đủ các thông tin cần thiết.
Ví dụ, nếu doanh nghiệp đang bán dòng sản phẩm túi xách tay và khăn quàng cổ phụ nữ, nhân viên bán hàng sẽ cần miêu tả được cho khách hàng về loại vải
một bạn sẽ cần miêu tả được chất lượng vải và cho khách hàng thấy túi xách từ tất cả các góc độ, nói rõ loại nào giặt được bằng máy, loại nào thì không. Quy trình tương tự cần được áp dụng vào trang web của doanh nghiệp.
Các nhân viên bán hàng cũng từ đào tạo họ về các khách hàng, họ dành nhiều thời gian để lắng nghe các nhu cầu và mối quan tâm của khách hàng trước khi bán sản phẩm hay dịch vụ. Từ đó, trang web của doanh nghiệp cần có tính năng thu thập ý kiến, mối quan tâm của khách hàng với những nhiệm vụ tương tự.
Trong khi xây dựng trang web của mình, các doanh nghiệp hãy quan tâm tới suy nghĩ của khách hàng. Chuẩn bị sẵn sàng cho việc cập nhập trang web của doanh nghiệp với mọi thay đổi, bổ sung cho phù hợp từng đối tượng khách hàng.
Ví dụ, nếu khách hàng của doanh nghiệp là những người lớn tuổi, chắc hẳn không thích hợp với nội dung được thể hiện trong phông chữ nhỏ (rất khó để người lớn tuổi có thể đọc) và cách bố trí phức tạp (những gì mà người trẻ có thể thích thú).
Trong cuốn sách "10 điều phải có với một website", chủ hãng tư vấn web trực tuyến of Smallbiztechnology.com, Ramon Ray cho rằng một trang web cần phải được thiết kế thích hợp với đặc điểm kinh doanh nhằm giúp đỡ doanh nghiệp bạn đảm bảo rằng "nhân viên bán hàng" quan trọng nhất này của bạn có đủ các kỹ năng để lôi cuốn được khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ.
Theo cách tương tự, doanh nghiệp sẽ mong đợi các nhân viên bán hàng của mình có được những kỹ năng mới và các công ty bán hàng mới từ năm này qua năm khác. Những mong đợi này cần đúng với trang web của doanh nghiệp nữa.
Các nhân viên bán hàng trong thập niên 80 của thế kỷ trước có thể phải mang cách túi đựng những mẫu sản phẩm khi tiếp xúc khách hàng, còn ngày nay họ sẽ mang theo chiếc laptop và cung cấp cho các khách hàng đĩa DVD chưa đầy đủ hình ảnh các sản phẩm mẫu.
Đây là lợi thế của trang web khi khách hàng có thấy ngay được hình ảnh của những sản phẩm mẫu. Điều quan trọng là doanh nghiệp cần chú ý tính đa dạng về mặt hình ảnh của những sản phẩm này trên trang web.
Doanh nghiệp bạn thậm chí có thể quan tâm tới bổ sung một avatar (hình ảnh đại diện mang dáng người) vào trang web để tăng thêm "yếu tố con người". Avatar có thể chào mừng khách hàng, hỏi các câu hỏi và hướng khách hàng tới những nơi của trang web mà họ có thể quan tâm tới. SitePal là một trang web chuyên cung cấp công nghệ kiểu này.
Việc áp dụng cho trang web nhiều công nghệ thông minh giúp "nhân viên bán hàng" này biệt được khi nào khách hàng vào trang web và những nơi nào họ ghé thăm hoàn toàn có thể đem lại những lợi ích rõ . Trang Genius.com cung cấp các bộ công cụ bán hàng thông minh để bổ sung cho trang web của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp bạn không thể bỏ qua những phương thức giao tiếp tới khách hàng, bảo đảm các khách hàng có thể giao tiếp với doanh nghiệp cũng như giao tiếp với các khách hàng khác. Đây chính là đặc tính quan trọng của Web 2.0.
Và một blog là cách thức tốt nhất để bắt đầu việc này. Những nơi như Word Press, Movable Type, Type Pad và Blogger là các lựa chọn để khởi động hoạt động tiếp thị và bán hàng qua một blog.
Hãy nhớ rằng, trang web hoàn toàn có thể là một trong những tài sản bán hàng tốt nhất mà các doanh nghiệp có được, nếu không muốn nói là tốt nhất. Khi được nuôi dưỡng và chăm sóc cẩn thận, trang web sẽ giúp thúc đẩy doanh số bán hàng và tăng trưởng kinh doanh, không kém phần một nhân viên bán hàng tài năng.
(Sưu tầm)

Sáu công cụ miễn phí để quản lý danh tiếng trực tuyến

Việc quản lý danh tiếng trực tuyến bao gồm hai nhiệm vụ: theo dõi thương hiệu và phản ứng khi cần thiết. Dù đôi khi công việc giám sát thương hiệu có vẻ chán ngắt nhưng nó có thể giúp công ty bạn tránh được thảm họa tiềm ẩn: ai đó nêu tên công ty bạn trong một bài viết có tính chất xuyên tạc về công ty. Ngoài chức năng phòng vệ, việc làm này còn giúp bạn tham gia vào những cuộc thảo luận xoay quanh các vấn đề của công ty, từ đó giúp quảng bá hình ảnh công ty ra bên ngoài nhiều hơn. Năm 2009 đã gần kề … và nếu không chủ động xuất hiện trực tuyến, bạn sẽ đánh mất nhiều cơ hội quý báu để khiến cả thế giới phải biết đến giá trị của công ty mình – thông qua nhiều kênh như báo chí, bài viết trên blog, thông tin mô tả trong mạng xã hội, comment (bình luận), video và nhiều phương tiện khác nữa.
Với vai trò là người tạo ra và sử dụng nội dung, tên tuổi công ty bạn sẽ lan tỏa ra khắp mạng lưới nhờ những người mà thậm chí bạn không hề quen biết. Nghiên cứu của công ty IDC đã hé lộ một sự thật là nội dung mà người khác viết về công ty bạn thậm chí còn nhiều hơn những gì bạn viết về chính công ty mình.Một phần thương hiệu của bạn giờ đây đang nằm trong tay người khác, chính vì thế việc giám sát thương hiệu phải giữ vai trò cực kỳ quan trọng trước khi một ngọn lửa nhỏ biến thành một trận cháy rừng.
Bạn có biết người khác nói gì về mình?
Nếu bạn muốn biết cách theo dõi sự hiện diện của công ty mình và giám sát thương hiệu của công ty thì quả thậtbạn đã gặp may. Sau đây là 6 công cụ hàng đầu có thể phục vụ kế hoạch quản lý danh tiếng trực tuyến của công ty bạn. Những công cụ này có thể được ứng dụng cho sản phẩm, thương hiệu công ty hay thậm chí là thương hiệu cá nhân. Hãy sử dụng chúng để tìm kiếm, định vị và phản hồi khi cần thiết.

1. Google – Google.com/alerts

•Định nghĩa:
Google Alerts hiển thị những tin tức mới nhất gửi đến email của bạn, nó căn cứ theo kết quả tìm kiếm mới nhất của Google dựa trên lựa chọn của bạn về chủ đề hoặc lĩnh vực mà bạn quan tâm. Bạn có thể đăng ký nhận thông báo tin tức qua email hoặc chức năng RSS.

•Ứng dụng:
Nhiều người sử dụng công cụ RSS để xem tin tức cập nhật còn các công ty PR thì sử dụng chức năng thông báo này để theo dõi chiến dịch PR của mình. Bạn có thể theo dõi một bài phóng sự, cập nhật diễn biến mới nhất trong ngành và của đối thủ cạnh tranh và xem ai đang viết về công ty mình, tất cả những việc ấy đều có thể tiến hành cùng một lúc.

•Chiến lược marketing:
Hãy thiết lập một chế độ thông báo toàn diện có khả năng cập nhật tất cả những câu chuyện có nhắc đến tên, chủ đề hay công ty của bạn ngay khi chúng vừa xuất hiện. Vì bộ phận lọc tin thường luôn đầy ắp tin bài theo yêu cầu nên bạn cần tạo lập một cơ sở dữ liệu về những blogger và nhà báo để có thể tiếp cận họ trực tiếp và xây dựng quan hệ tốt hơn.

2. Bài viết trên blog – Technorati.com

•Định nghĩa:
Nếu bạn có viết blog thì hẳn nhiên bạn cần phải sử dụng Technorati, công cụ tìm kiếm blog có quy mô lớn nhất thế giới. Khi bạn đăng ký sử dụng dịch vụ của Technorati, nó sẽ theo dõi “phản hồi trên blog” hay những blog nào có liên kết với blog của bạn.

•Ứng dụng:
Tìm kiếm tên công bạn trên Technorati và đăng ký chức năng thông báo RSS để khi nào có ai đó viết về công ty bạn trên blog, bạn sẽ nhận biết ngay.

•Chiến lược marketing:
Sử dụng Technorati để theo dõi bất kỳ blog nào kết nối với blog của bạn. Và khi bạn viết một entry có liên quan đến họ, hành động trên sẽ giúp tăng cường khả năng nhận biết của họ dành cho blog/tiếng tăm của công ty bạn.

3. Comment trên blog – backtype.com

•Định nghĩa:
Gần đây có một dịch vụ mới ra đời để giải quyết vấn đề quản lý comment trên blog. Hãy chú ý đến điều này. Một ai đó có thể comment về công ty bạn trên hàng loạt blog vì thế nếu bạn chỉ theo dõi các entry thì chắn chắc sẽ bỏ sót những comment đó. BackType dịch vụ cho phép bạn tìm kiếm, theo dõi và chia sẻ comment của mình trên web. Bất kỳ khi nào bạn viết một comment trên blog người khác có kết nối với trang blog của mình, BackType sẽ lưu lại cho bạn.

•Ứng dụng:
Sử dụng BackType để nhắc nhở mình về những blog mà bạn đã vào comment, khám phá ra ai những người có ảnh hưởng cao và những blog họ đang comment mà bạn nên xem và tiếp tục đoạn hội thoại còn dở dang khi chính bạn là người khởi xướng trước đó.

•Chiến lược marketing:
Thiết lập một danh sách những người có ảnh hưởng lớn trong phạm vi hoạt động của công ty bạn. Sau đó, bạn theo dõi comment của họ qua các blog và để lại comment của chính mình ngay sau comment của họ. Hành động này sẽ giúp bạn tạo dựng thương hiệu nhờ sự “ăn theo” này.

4. Nhóm thảo luận (discussion board) – boardtracker.com

•Định nghĩa:
Bên cạnh blog và những bài phóng sự truyền thống, nhóm thảo luận là một kênh khác mà mọi người có thể tập trung thành một cộng đồng và nói về công ty bạn. Hầu hết mọi người đều không để ý đến kênh thảo luận nhóm này cho đến khi thấy những trang web khác comment về thông tin trích theo quan điểm của các nhóm thảo luận ấy.

•Ứng dụng:
Sử dụng boardtracker.com để nhận được thông báo ngay tức thì về những bài viết nêu tên công ty bạn trong các nhóm thảo luận.

•Chiến lược marketing:
Tìm kiếm tất cả nhóm thảo luận nào có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của công ty bạn và tham gia vào từ 2 đến 5 nhóm thảo luận sôi nổi nhất. Để biết được mức độ phổ biến của từng nhóm thảo luận, bạn có thể căn cứ vào số lượng bài thảo luận và thành viên đăng ký. Tham gia vào các cộng đồng ấy bằng cách khởi xướng chủ đề đồng thời để lại tên và URL (đường link) của công ty bạn ngay bên dưới mỗi bài viết.

5. Twitter – search.switter.com

•Định nghĩa:
Twitter là một dịch vụ hỗ trợ blog siêu nhỏ, hiện đang cung cấp dịch vụ cho hơn 3 triệu người dùng. Tin nhắn được gửi qua Twitter (gọi là tweet) di chuyển với vận tốc ánh sáng nên nếu bạn không nắm bắt được chúng, chúng sẽ phát tán nhanh như virus vậy.

•Ứng dụng:
Sử dụng chức năng tìm kiếm của Twitter, bạn có thể phát hiện bất kỳ tin nhắn nào có xuất hiện tên của công ty bạn và phản hồi (hay im lặng).

•Chiến lược marketing:
Khi bạn thấy một tin nhắn có nhắc đến tên công ty mình, bạn nên sử dụng ký tự @ kèm theo tên tài khoản của người viết tin nhắn (ví dụ như @danschawbel) khi phản hồi. Khi bạn phản hồi, bạn bắt đầu xây dựng độ nhận biết cho thương hiệu công ty và người xem tin nhắn của bạn sẽ có cảm giác rằng thật sự quan tâm và chủ động lắng nghe.

6. FriendFeed – friendfeed.com/search

•Định nghĩa:
FriendFeed là một công cụ tập hợp xã hội. Giống như khi sử dụng Youtube, Delicious, Twitter, blog hay Flickr, bạn có thể gom tất cả quan hệ xã hội của mình vào một (Friend) feed, một thư mục có chức năng cập nhật và chia sẻ thông tin tóm tắt mới nhất của một trang web liên kết.

•Ứng dụng:
Bạn có thể tiến hành tìm kiếm thương hiệu của công ty mình trong toàn bộ mạng xã hội cùng một lúc nhờ vào công cụ tìm kiếm của trang web này. Ngoài việc biết được video hay tin nhắn nào có liên quan đến lĩnh vực của mình, bạn còn có thể phân tích những comment mà mọi người bày tỏ.

•Chiến lược marketing:
Sử dụng chức năng quản lý FriendFeed (friendfeed.com/embed/widget) và bày nó trên blog hay website của công ty bạn để mọi người có thể cảm nhận được hoạt động truyền thông xã hội mà bạn đang thực hiện. Đồng thời, bạn có thể tìm kiếm và xác định những ai đang nói về thương hiệu công ty mình trên FriendFeed và phản hồi họ bằng comment.

Bạn có thể sử dụng cả 6 công cụ miễn phí trên để vừa quản lý, vừa tiếp thị thương hiệu của công ty mình trực tuyến.Bạn có thể không chăm lo cho danh tiếng trực tuyến của công ty mình, nhưng người khác thì quan tâm. Đã đến lúc cần biết người ta đang nói gì – và có động thái phản hồi nào đó. Việc marketing cho đối tượng người đọc blog hay web của công ty bạn sẽ trở nên suôn sẻ sau khi bạn hoàn thành bài tập về nhà với 6 công cụ trên.